Sự thành đạo của Bồ-tát Siddhartha và những giá trị mới đối với nhân loại
Thích Nữ Huệ Đức
Đại học Savitribai Phule Pune, Ấn Độ

Học viên cao học: SC. Thích Nữ Huệ Đức, chuyên ngành Cổ ngữ Sanskrit tại Đại học Savitribai Phule Pune, Ấn Độ.
Sự thành đạo của Bồ-tát Siddhartha và những giá trị mới đối với nhân loại
I. Dẫn nhập
Từ cung trời Tusita, Bồ-tát nhập thai mẹ, trải qua mười tháng và đản sinh tại vườn Lumbini, thuộc khu vực phía nam Nepal, gần biên giới Ấn Độ. Bồ-tát sinh trưởng trong cung điện, được hưởng đầy đủ những tiện nghi vật chất và quyền uy của một đời sống vương giả. Thế nhưng, với bẩm tính trầm tư mặc tưởng và lòng từ bi vô lượng vô biên của Ngài, không để yên cho Ngài một mình hưởng thụ những lạc thú tạm bợ của đời sống vương giả ấy. Rồi một hôm, sau khi cả hoàng cung đang chìm trong giấc ngủ, Ngài đã lặng lẽ đến nhìn vợ con lần cuối và quyết tâm ra đi với tất cả huyết khí của tuổi xuân để tìm cầu chân lý giải quyết vấn đề khổ đau sinh tử cho mình và cho cả muôn loài.
Trải qua nhiều năm tầm sư học đạo và thực hành hết mọi hình thức khổ hạnh khốc liệt lúc bấy giờ, nhưng Ngài vẫn chưa chứng được pháp thù thắng như Ngài mong đợi. Khi thân thể trở nên suy kiệt, Ngài nhận ra rằng đời sống khổ hạnh ép xác không thể đưa đến giác ngộ: “Không thể nào có một tinh thần minh mẫn trong một thân thể ốm yếu”[1]. Đời sống hưởng thụ dục lạc khiến con người chìm đắm trong sanh tử; khổ hạnh ép xác cũng chỉ khiến cho cơ thể trở nên suy kiệt. Cả hai lối sống ấy đều không đưa đến sự giải thoát. Hay là có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ?[2] Sau khi trầm tư như vậy, Ngài quyết định từ bỏ hai lối sống cực đoan ấy và thọ nhận bát sữa từ cô gái Sujata, rồi tắm rửa sạch sẽ, đến cội cây Bồ-đề phát thệ nguyện rằng: “Dù cho thịt nát xương tan, nếu không tìm ra chân lý, ta quyết không rời khỏi chỗ này”. Sau thời gian thiền định dưới cội Bồ-đề, Ngài đã vượt qua những chướng ngại và chứng ngộ giác tuệ tối thượng. Vào canh cuối của đêm thành đạo, lúc sao mai vừa mọc, Ngài chứng được tuệ giác tối thượng và tự liễu tri: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, sau đời hiện tại không có đời sống nào khác nữa”.[3]
Chính trong đêm thiêng liêng ấy, Bồ-tát Siddhartha đã chứng ngộ và trở thành một vị A-la-hán Chánh Đẳng Giác, đem ánh sáng của chân lý chiếu soi vào cõi đời tăm tối bị dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu bao phủ bấy lâu nay. Ngài đã thắp lên tia nắng ấm xua tan những nỗi khổ, niềm đau đang kìm hãm kiếp sống con người. Sự chứng ngộ của Ngài như vầng thái dương tỏa chiếu đã đưa nhân loại bước sang một kỷ nguyên mới về mọi phương diện của đời sống. Điều đó có thể thấy rõ qua cuộc đời hoằng pháp của Ngài.
II. Nội dung
1. Xây dựng Tăng đoàn trên tinh thần từ bi và bình đẳng
Chẳng bao lâu sau khi thành đạo, Đức Phật đã thu hút sự kính trọng và quy ngưỡng của nhiều tầng lớp trong xã hội, từ người dân đến các vua chúa và những người có địa vị. Hình ảnh giáo đoàn khất sĩ sống đời phạm hạnh, tinh nghiêm, thanh tịnh dưới sự hướng dẫn của Đức Phật và những lời tuyên thuyết của Ngài đã dần không còn xa lạ đối với mọi người. Phật giáo đã có mặt trên khắp nẻo đường xứ Ấn. Một trong những điểm nổi bật của Phật giáo thời kỳ đầu là tinh thần hoằng hóa rộng mở, hướng đến lợi ích và an lạc của nhiều người. Các truyền thống tu hành đương thời ở Ấn Độ có những quan niệm và phương thức tu tập khác nhau về mục tiêu giải thoát và đời sống xuất gia; các đệ tử nương tựa vào vị đạo sư mới được chỉ dạy. Đặc biệt là với quan điểm về “tái sanh tộc, nhất sanh tộc”, họ lợi dụng Phạm Thiên để bảo vệ lợi dưỡng cho bản thân, cho dòng tộc mình.
Ngược lại, đức Phật với nhân cách vượt trội, tấm lòng bi mẫn thương tưởng đến sự thống khổ của nhân sinh, đức Phật giáo hóa độ sanh không nhằm mục đích phục vụ lợi ích cho riêng một cá nhân, dòng tộc nào, mà sự giáo hóa của Ngài là vì mục đích “đem lại hạnh phúc cho nhiều người, an lạc cho nhiều người....” Ngay từ buổi đầu thành lập tăng đoàn, đức Phật đã khuyến khích các vị Tỳ-kheo đệ tử mình: “Này các tỳ kheo, hãy cất bước du hành vì lợi ích của nhiều người, vì an lạc của nhiều người, vì lòng thương xót thế gian, vì sự tiến hóa, sự lợi ích, sự an vui của chư thiên và nhân loại, chớ đi hai người chung một đường. Này các tỳ kheo, hãy thuyết giảng Giáo Pháp toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, và toàn hảo ở đoạn kết, thành tựu về ý nghĩa, thành tựu về văn tự, giảng giải về Phạm hạnh thanh tịnh một cách trọn vẹn và đầy đủ.”[4]
Đức Phật đã trực tiếp xoá bỏ rào cản giai cấp đã ăn sâu trong xã hội ra khỏi Tăng đoàn và góp phần hình thành một cộng đồng xuất gia trong đó nguồn gốc giai cấp không phải là tiêu chí quyết định tư cách của một thành viên trong Tăng đoàn bằng lời tuyên bố: “Phàm có các con sông lớn nào, ví như sông Hằng, sông Yamunà, sông Aciravatì, sông Sarabhù, Sông Mahì, các con sông ấy khi chảy đến biển, liền bỏ tên họ cũ trở thành biển lớn… có bốn giai cấp: Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, Phệ-xá, Thủ-đà, sau khi từ bỏ gia đình, xuất gia trong Pháp và Luật được Như Lai tuyên bố, họ từ bỏ tên và họ của họ từ trước, và họ trở thành những Sa-môn Thích tử.”[5]
Đặc biệt, việc Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia đã mở ra một con đường tu tập và giải thoát tâm linh cho phụ nữ trong bối cảnh xã hội Ấn Độ đương thời, mà còn cao cả hơn, người nữ có thể vượt thoát ra khỏi ngục tù bản ngã nhỏ hẹp để vươn đến con đường giải thoát giác ngộ như tất cả những bậc nam giới trong xã hội.
2. Thiết lập tinh thần bất bạo động trong đời sống
Tinh thần bất hại và không sát sinh giữ một vị trí quan trọng trong giáo lý và đời sống thực hành của Phật giáo. Trong quá trình truyền bá Chánh pháp, Đức Phật không chủ trương dùng bạo lực hay cưỡng ép để thuyết phục người khác, mà ngược lại, Ngài còn tiếp biến với văn hóa bản địa, tạo nên bản sắc văn hóa Phật giáo của từng vùng lãnh thổ. Trong nhiều trường hợp, Đức Phật đối thoại với những người thuộc các truyền thống khác bằng tinh thần ôn hòa, không chủ trương cưỡng ép họ từ bỏ truyền thống của mình và đề cao quan điểm của mình. Ngài cho phép một người từng là tín đồ của Loã thể sau khi quy y theo Tam bảo vẫn được tiếp tục duy trì sự cúng dường cho các tu sĩ Loã thể.
Khi bị sự thoá mạ, phỉ báng của các ngoại đạo, Ngài khuyên các Tỳ-kheo không nên sanh lòng bực bội, khó chịu, mà từ đó phản chiếu lại, xem xét lại những điều họ phỉ báng là đúng hay sai, và cũng không nên khởi tâm hân hoan, vui thích khi nghe lời tán dương khen ngợi Tam bảo, vì cả hai trạng thái đó đều gây chướng ngại cho sự tu tập. Thái độ đúng đắn cần nên làm là nói cho họ biết chỗ nào chưa chính xác trong lời chỉ trích và chỉ rõ đâu là điều khen ngợi chính xác trong lời tán thán.[6]
Tinh thần bất bạo động của Đức Phật không chỉ chống lại sự giết chóc hàng loạt trong các cuộc chiến tranh, sử dụng vũ lực giữa các quốc gia hay bộ tộc mà còn thể hiện qua chủ trương bất hại, phản đối việc sát sinh để hiến tế trong các nghi thức tế lễ. “Này Bà-la-môn, Ta không tán thán tất cả các loại tế đàn. Nhưng này Bà-la-môn, Ta không phải không tán thán tất cả các loại tế đàn. Trong loại tế đàn nào, này Bà-la-môn, bò bị giết, dê, cừu bị giết, gia cầm, heo bị giết, các loài sinh vật khác đi đến bị giết hại, loại tế đàn ấy, này Bà-la-môn liên hệ đến sát sanh, Ta không tán thán loại tế đàn ấy.”[7]
Không những trong kinh điển mà trong giới luật đức Phật chế định cũng thể hiện tinh thần từ bi bất hại, tránh sát sanh từ con người cho đến những loài côn trùng vi tế. Có thể thấy tinh thần bất hại và hướng đến hòa bình là một đặc điểm nổi bật trong giáo lý và đời sống giáo hóa của Đức Phật. Bởi vì nếu một Phật tử tu tập để tạo điều kiện cho đức tính từ bi phát triển trong tâm thì họ không thể làm hại những người hay vật khác được.
3. Khẳng định vai trò làm chủ vận mệnh của con người
Sau khi Bồ-tát Siddhartha thành đạo, xã hội Ấn Độ nói riêng và toàn thể thế giới nói chung đã chính thức đón nhận một tôn giáo mới, đó là Phật giáo. Tuy nhiên, khác với các tôn giáo khác, Phật giáo không đặt một đấng sáng tạo tối cao làm nền tảng của con đường giải thoát; thay vào đó, giáo lý nhấn mạnh vai trò của nghiệp, hành động và sự tu tập của mỗi cá nhân, mà tất cả đều do chính hành động của con người. Thông qua giáo lý Nghiệp báo, Đức Phật đã trao quyền làm chủ vận mệnh cho con người, con đường giải thoát không được đặt nền tảng trên việc cúng tế thần linh hay sự lệ thuộc vào nghi lễ và quyền năng siêu nhiên, mà nhấn mạnh sự tu tập và chuyển hóa của chính mỗi cá nhân… Nền tảng của Phật giáo đặt ra từ vị trí của con người, sự giải thoát nằm ở nơi mỗi cá nhân, từ sự nỗ lực tu tập thiền định, thực hành con đường Trung đạo với quả vị tối thượng là A-la-hán.
Theo giáo lý Phật giáo, mỗi người chịu trách nhiệm đối với nghiệp và những hành động của chính mình: “Này các Tỷ-kheo, chúng sanh là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, là sanh căn của nghiệp, là bà con của nghiệp, là chỗ nương tựa của nghiệp. Phàm họ làm nghiệp gì, thiện hay ác, họ là những kẻ thừa tự của nghiệp ấy”.[8] Đức Phật xuất hiện trong lịch sử nhân loại như một con người, trải qua quá trình tu tập và chứng ngộ để trở thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nhưng Ngài đã làm chủ được vận mệnh đời mình qua quá trình tu tập và giác ngộ. Từ đó, tư tưởng về khả năng tu tập và chứng ngộ của chúng sinh được phát triển mạnh mẽ trong các truyền thống Phật giáo. Ngài đã trả lại đúng vị trí, quyền hạn và trách nhiệm cho con người. Chính con người chứ không phải ai khác có thể quyết định hạnh phúc hay khổ đau của mình, vì “Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta nhiễm ô, chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta thanh tịnh, trong sạch hay nhiễm ô là tự nơi ta, không ai có thể làm cho kẻ khác trở nên trong sạch”[9]
Trải qua hơn hai thiên niên kỷ, những giáo pháp được truyền lại từ Đức Phật vẫn tiếp tục có ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống tinh thần và thực hành của nhiều cộng đồng trên thế giới. Và có khả năng đem lại chân hạnh phúc cho những ai thực tu thực chứng. Có thể nói rằng sự thành đạo của Bồ-tát Siddhartha là một dấu ấn lịch sử trọng đại cho toàn thể nhân loại, vì nếu không có sự thành đạo của Ngài thì sẽ không có chân lý nhiệm mầu truyền bá khắp năm châu, và như thế nhân loại vẫn mãi chìm đắm trong kiếp sống mù mờ không lối thoát. Từ những giáo lý thậm thâm vi diệu, đức Phật đã khơi dậy niềm tin ở nơi mỗi con người về khả năng chuyển hóa mọi khổ đau bằng chính hành động hướng thiện của mình. Giáo pháp của Ngài đặt trọng tâm vào sự tu tập và giải thoát của mỗi cá nhân, đồng thời thách thức quan niệm cho rằng địa vị tâm linh của một người được quyết định bởi nguồn gốc giai cấp. Sự thành đạo của Đức Phật đã mở ra một cách nhìn mới về khổ đau, con người, đạo đức và con đường giải thoát, tạo nên những ảnh hưởng sâu rộng đối với đời sống tinh thần của nhân loại. Điều kỳ diệu này đã được các Vương tử, gia chủ Bà-la-môn và du sĩ ngoại đạo nhiều lần tán thán: “Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc”.[10]
III. Kết luận
Như vậy đó, Thế Tôn đã đến bên đời với bao suy tư trăn trở về sự thống khổ của kiếp người, để rồi chính Ngài đi tìm câu giải đáp cho sự trầm tư ấy, và cuối cùng Ngài đã làm được điều đó, đã mở ra cánh cửa giải thoát cho những ai thực hành theo chân lý mà Ngài chứng ngộ. Ngài đã thấy rõ khuôn mặt của kẻ dựng nên ngôi nhà năm uẩn với lời tuyên bố hùng hồn giữa núi rừng thanh vắng:
“Lang thang bao kiếp sống
Ta tìm nhưng chẳng gặp,
Người xây dựng nhà này,
Khổ thay, phải tái sanh.
Ôi! Người làm nhà kia
Nay ta đã thấy ngươi!
Ngươi không làm nhà nữa,
Ðòn tay ngươi bị gãy,
Kèo cột ngươi bị tan
Tâm ta đạt tịch diệt,
Tham ái thảy tiêu vong.”[11]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. HT. Thích Minh Châu (dịch), Trung Bộ Kinh, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2020.
2. HT. Thích Minh Châu (dịch), Tương Ưng Bộ Kinh, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2020.
3. HT. Thích Minh Châu (dịch), Tăng Chi Bộ Kinh, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2020.
4. HT. Thích Minh Châu (dịch), Trường Bộ Kinh, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2020.
5. HT. Thích Minh Châu (dịch), Tiểu Bộ Kinh, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, NXB Hồng Đức, 2020.
6. Tạng Luật, Đại phẩm, chương Trọng yếu, tụng phẩm Thứ nhì, SuttaCentral.
[1] Đại kinh Saccaka, Trung Bộ kinh, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.273.
[2] Sđd, tr. 273.
[3] Sđd, tr. 275.
[4] Đại Phẩm, tập I, Tụng Phẩm Thứ Nhì, tr.36.
[5] Kinh Tăng Chi Bộ, Chương VIII Tám Pháp II. Phẩm Lớn, tr.962.
[6] Trường Bộ kinh, Kinh Phạm Võng, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr 14-15.
[7] Tăng Chi Bộ kinh, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.311.
[8] Tăng Chi Bộ Kinh, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.1306.
[9] Tiểu Bộ Kinh, Pháp cú 165, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.52.
[10] Trung Bộ Kinh, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.521.
[11] Tiểu Bộ Kinh, Pháp cú 153-154, Thích Minh Châu dịch, VNCPHVN, NXB Hồng Đức, 2020, tr.48.






