Trở lại Diễn đàn Phật học
Lịch sử Phật giáo

Đại học Phật giáo cổ đại Nālandā và Vikramaśīla

Đại học Phật giáo cổ đại Nālandā và Vikramaśīla

Học viên cao học: SC. Thích Nữ Như Cảnh, Khoa Pali & Buddhist Studies, Đại học Savitribai Phule Pune, Ấn Độ.

Đại học Phật giáo cổ đại Nālandā và Vikramaśīla

Phật giáo do Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sáng lập tại Ấn Độ hơn 2.500 năm trước, là một tôn giáo của sự thể nghiệm với một hệ thống lý luận vô cùng đồ sộ. Sau khoảng mười thế kỷ truyền trao giáo pháp của Đức Phật từ thầy sang trò trong nội bộ Tăng đoàn, Phật giáo đã phát triển sang một giai đoạn mới mang tính học thuật khi trường đại học Phật giáo nội trú đầu tiên, theo một số tài liệu ghi nhận, Nālandā, được thành lập tại Magadha vào năm 427 SCN. Gần bốn trăm năm sau, một đại học Phật giáo khác mang tên Vikramaśīla cũng được xây dựng tại Magadha, cái nôi của Phật giáo. Ngoài ra, còn có nhiều cơ sở giáo dục Phật giáo khác trải khắp lãnh thổ Ấn Độ, nhưng Nālandā và Vikramaśīla là hai đại học Phật giáo cổ đại nổi tiếng nhất ở Trung Ấn. Thông tin về hai đại học Phật giáo cổ đại này được ghi chép bởi nhiều nhà hành hương nổi tiếng của Trung Quốc, trong số đó có Huyền Trang (玄奘, 602–664) và Nghĩa Tịnh (义净, 635–713).

Đại học Nālandā cổ đại, với tên gọi nguyên thủy là Nālandā Mahāvihāra, tọa lạc gần thành Rajagṛha (nay là Rajgir) và cách Pāṭaliputra (nay là Patna) khoảng 90 km về phía Đông Nam. Đây được xem là trường đại học nội trú đầu tiên (theo một số học giả) trên thế giới và là một trong những trung tâm học thuật vĩ đại nhất của thế giới cổ đại. Trường là một cơ sở tu viện Phật giáo nổi tiếng có quy mô quốc tế. Bên cạnh sinh viên bản địa, trường còn tiếp nhận học viên từ nhiều quốc gia khác như Tây Tạng, Trung Quốc, Triều Tiên và Trung Á.

Theo nghiên cứu của Sankalia (1934), Đại học Nālandā được phát triển từ Nālandā Saṅgārāma do vua Kumaragupta I (Śakrāditya) sáng lập vào năm 427 SCN dưới triều đại Gupta (300–600 SCN), rồi được các hậu duệ của ông hoàn thiện. Đây là công trình kiến trúc tráng lệ nhất ở Jambudvīpa (Ấn Độ). Toàn bộ công trình có mặt bằng hình vuông như một thành phố. Có bốn cổng lớn, mỗi cổng gồm ba tầng. Mỗi tầng cao khoảng mười bộ Anh. Toàn bộ mái được lợp ngói. Đáng tiếc thay, công trình này đã bị quân đội Hồi giáo phá hủy hoàn toàn vào năm 1197. Nhờ hai cuộc khai quật trong thế kỷ XX (1915–1937 và 1974–1982), được tiến hành dựa trên các ghi chép của những nhà hành hương cổ đại, người ta đã phát hiện những di tích còn sót lại của trường này trên một khuôn viên rộng 12 ha thuộc huyện Nalanda, bang Bihar. Tuy nhiên, phần đã được khai quật chỉ là một bộ phận nhỏ của toàn bộ di tích, còn phần lớn phế tích vẫn nằm bên dưới các ngôi làng.

Xét một cách tổng quát, trung tâm này có tám khu độc lập, mười ngôi đền, các thiền đường, phòng học, hồ nước và công viên. Trường có ba thư viện lớn mang tên Ratna-Sāgara, Ratna-Nidhi và Ratna-Rañjana. Một trong ba thư viện này cao chín tầng. Trường có đủ chỗ ăn ở cho khoảng 2.000 giáo sư và 10.000 sinh viên. Trong khoảng 700 năm, từ thế kỷ V đến thế kỷ XII, Nālandā là trung tâm học thuật và nghiên cứu Phật học. Khi quân đội Hồi giáo kéo đến vào năm 1197, họ đã gây ra một cuộc thảm sát đẫm máu và phóng hỏa thiêu rụi toàn bộ thư viện, phá hủy hơn chín triệu bản thảo.

Để được nhận vào học tại Nālandā, như Ngài Huyền Trang đã ghi lại, thí sinh phải tinh thông cả cổ thư lẫn tân thư. (Theo Sankalia (1934), điều này có nghĩa là phải thông hiểu Veda, Upaniṣad, các tác phẩm của phái Sāṃkhya, Vaiśeṣika, Nyāya cùng toàn bộ kinh luận của Phật giáo Đại thừa và Phật giáo Thượng tọa bộ.) Việc tuyển sinh vào Nālandā được thực hiện thông qua một kỳ khảo hạch vấn đáp. Người đảm nhiệm việc này là một vị giáo sư ngồi tại cổng trường, được gọi là Dvārapāla (Người giữ cổng hay Cổng học giả). Thành thạo tiếng Sanskrit là điều kiện bắt buộc vì đây là ngôn ngữ giảng dạy. Huyền Trang cho biết chỉ khoảng 20% sinh viên ngoại quốc vượt qua được kỳ khảo hạch nghiêm ngặt này. Đối với sinh viên Ấn Độ, chỉ khoảng 30% vượt qua và được tuyển vào học. Các học giả đến từ những trung tâm giáo dục khác muốn lấy học vị tại đây cũng phải vượt qua một kỳ thi tuyển đầu vào hết sức nghiêm khắc dưới hình thức tranh luận với các giám khảo.

Độ tuổi tối thiểu để vào học tại bất kỳ trường đại học nào vào thời đó là 20 tuổi, khi người học đã hoàn thành Vṛtta Sūtra, một giáo trình ngữ pháp cao cấp. Kỳ thi tuyển đầu vào dường như chỉ áp dụng đối với những người đến từ các địa phương khác và những người ngoại lai, tức những người chưa từng theo học bậc sơ cấp và trung cấp tại Nālandā. Sankalia cho rằng một số học viên, chủ yếu là các tỳ kheo, đã vào Nālandā Mahāvihāra sớm hơn khoảng năm đến bảy năm, ngay sau khi hoàn tất việc học ngữ pháp. Những học viên này sau đó được chuyển lên Đại học Nālandā mà không cần phải trải qua kỳ thi tuyển đầu vào.

Trung tâm này chuyên về truyền thống Đại Thừa, nhưng các trước tác của các bộ phái Phật giáo sơ kỳ và các trường phái triết học khác cũng được giảng dạy. Sau khi vượt qua kỳ tuyển sinh và được nhận vào học, trước hết sinh viên phải học kinh luận Phật giáo, sau đó mới học các tác phẩm của những tôn giáo và hệ thống tư tưởng khác. Chương trình giảng dạy bao gồm giáo lý Đại thừa, giáo lý của mười tám bộ phái Phật giáo khác, Veda, khoa học, y học, chiêm tinh học, mỹ thuật, văn học, logic học, ngữ pháp v.v. Sau khi hoàn thành một số môn học nhất định, họ được phân công phụ trách các bộ môn khác nhau của trường. Phần lớn việc giảng dạy được thực hiện theo hình thức hướng dẫn trực tiếp giữa thầy và trò. Người lớn tuổi và người trẻ tuổi giúp đỡ lẫn nhau. Thầy giảng giải những đoạn văn khó cho học trò, còn học trò giúp thầy các công việc sinh hoạt hằng ngày và những Phật sự. Ngài Nghĩa Tịnh cho biết học trò đến hầu thầy vào đầu đêm và cuối đêm. Thầy bảo học trò ngồi ngay ngắn, rồi lựa chọn những bài học thích hợp từ Tam tạng để giảng giải cặn kẽ. Thầy theo dõi phẩm hạnh đạo đức của học trò và nhắc nhở họ về những khuyết điểm, lỗi lầm. Mỗi khi phát hiện học trò phạm lỗi, thầy đều yêu cầu họ tìm cách sửa chữa và sám hối. Học trò có nhiệm vụ xoa bóp cơ thể cho thầy, gấp y phục, đôi khi quét dọn phòng ở và sân viện, lọc nước để thầy dùng, cùng nhiều công việc khác thay cho thầy. Truyền thống này vẫn còn tồn tại trong các chùa chiền ngày nay, đó là đệ tử luôn phụng sự vị thầy của mình.

Các bài giảng, tranh biện và thảo luận là những thành phần quan trọng trong chương trình giáo dục. Sinh viên tiếp thu phần lớn kiến thức thông qua việc lắng nghe các cuộc thảo luận diễn ra liên tục từ sáng đến tối. Ngài Huyền Trang cho biết mỗi ngày tại đây có khoảng một trăm bài giảng được tổ chức. Ngài Nghĩa Tịnh viết: “Tại Nālandā, những bậc hiền tài và học giả uyên bác tụ hội rất đông, cùng nhau thảo luận những học thuyết hợp lý và bất hợp lý; sau khi các quan điểm của mình được những bậc trí giả xác nhận, họ trở nên nổi danh khắp nơi nhờ trí tuệ của mình.” (Sankalia, 1934).

Công việc viết lách duy nhất mà sinh viên phải thực hiện là sao chép các bản thảo, trong đó quan trọng nhất là kinh Bát Nhã (Prajñāpāramitā). Việc sao chép bản thảo được xem là một trong những hoạt động quan trọng của sinh viên (Sankalia, 1934, tr. 147). Sau khi hoàn tất việc học, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh đã mang theo hàng trăm bản thảo từ Ấn Độ trở về nước.

Lịch sử ghi lại câu chuyện về một sinh viên tên là Śāntideva (Tịch Thiên, thế kỷ VII–VIII) tại Nālandā, qua đó cho thấy trường đại học này nghiêm minh và chuyên nghiệp đến mức nào. Sau khi được nhận vào học tại Nālandā, ngài Śāntideva ngày càng tỏ ra lười biếng. Ngài không làm gì ngoài việc ăn, ngủ và đi dạo. Các thầy và sinh viên đều bất mãn. Họ yêu cầu ngài Śāntideva tụng kinh trước đại chúng nhằm làm nhục và chính thức đuổi ngài khỏi trường, vì họ cho rằng ngài không thể thuộc bài kinh nào. Ngài Śāntideva đồng ý.

Đến ngày đã định, theo yêu cầu của mọi người, ngài Śāntideva đã xuất hiện và tụng trôi chảy một tác phẩm mới do chính mình sáng tác, khiến tất cả người nghe đều vô cùng kinh ngạc. Tác phẩm ấy là Bodhicaryāvatāra (Nhập Bồ Đề Hành). Trong khi đang tụng đọc, ngài Śāntideva dần dần bay lên cao rồi biến mất giữa hư không trước sự sửng sốt của mọi người. Sau khi tụng xong tác phẩm, ngài lại hiện ra. Sau đó, ngài rời Nālandā đến miền Đông. Tại đây, ngài tham gia một cuộc tranh luận lớn với các ngoại đạo và đã khuất phục tất cả. (Buston, bản dịch của Obermiller, 1932, tr. 162–163).

Trong thời kỳ Đại học Nālandā hưng thịnh, nhiều trường đại học mới đã được thành lập ở các vùng khác nhau của Ấn Độ. Một trong số đó là Đại học Vikramaśīla (thế kỷ VIII–1197 SCN), do vua Dharmapāla của Magadha sáng lập. Tồn tại hơn bốn thế kỷ, đây là một trong những đại học tu viện Phật giáo quốc tế lớn của Ấn Độ cổ đại, tọa lạc cách Nālandā khoảng 150 dặm về phía Đông, gần thành phố Bhagalpur ngày nay bên bờ sông Hằng. Vào thế kỷ XII, có khoảng 3.000 tăng sĩ và học giả cư trú và học tập tại trung tâm này. Cũng như Nālandā, trường nhận được sự bảo trợ của hoàng gia. Vua Dharmapāla (769–815 SCN) đã thiết lập tại đây bốn khu tự viện, mỗi khu gồm 27 tăng sĩ, thuộc bốn bộ phái chính. Nhà vua cũng ban cấp nhiều điền sản và tài vật, đồng thời quy định các khoản trợ cấp thường xuyên để duy trì đời sống của chư tăng và sinh viên. Nhà trường cũng có những khoản hỗ trợ dành cho các học viên tạm trú.

Ở trung tâm khuôn viên có một đại sảnh mang tên Ngôi Nhà Tri Thức (House of Science). Đại sảnh này có sáu cổng thông với sáu học viện. Mỗi học viện có thể tiếp nhận 108 giáo sư. Toàn bộ các công trình này được bao bọc bởi một bức tường thành. Trên mặt trước của bức tường, phía bên phải có vẽ chân dung Nāgārjuna, người từng giữ chức viện trưởng của trường, còn phía bên trái là chân dung của chính Atiśa, vị đại luận sư đã từng giảng dạy và hoạt động tại Vikramaśīla.

Đại học Vikramaśīla cũng yêu cầu các thí sinh muốn theo học phải vượt qua một kỳ khảo hạch vấn đáp hết sức nghiêm ngặt. Sáu cổng của trường do sáu vị học giả danh tiếng trấn giữ, và thí sinh phải thuyết phục được các vị này mới có thể được nhận vào học. Theo Taranātha, vào thời kỳ cực thịnh của Vikramaśīla dưới triều vua Chanaka (955–983), sáu vị học giả giữ cổng gồm có: Ratnākaraśānti (cổng Đông), Vāgīśvarakīrti (cổng Tây), Ratnavajra (cổng Trung thứ nhất), Jñānaśrīmitra (cổng Trung thứ hai), Nāropa (cổng Bắc) và Prajñākaramati (cổng Nam).

Các tăng sĩ của trung tâm này phần lớn đều là những học giả kiệt xuất, và danh tiếng của tu viện nhanh chóng vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn. Trong suốt bốn thế kỷ đã diễn ra sự giao lưu liên tục giữa Tây Tạng và Vikramaśīla. Không ai có thể không khâm phục truyền thống học thuật xuất sắc được duy trì liên tục tại Vikramaśīla trong suốt lịch sử tồn tại của mình. Các tư liệu Tây Tạng cho biết các học giả của Vikramaśīla như Buddha, Jñānapāda, Vairochana, Rakṣita, Jetārī, Ratnākaraśānti, Jñānaśrīmitra, Ratnavajra, Abhayākaragupta, Tathāgatarakṣita cùng nhiều học giả khác đã trước tác rất nhiều tác phẩm bằng tiếng Sanskrit và dịch hàng chục tác phẩm sang tiếng Tây Tạng.

Tuy nhiên, nhân vật kiệt xuất nhất trong lịch sử của trường là Dīpaṃkara Śrījñāna (980–1053), thường được biết đến với tên Atiśa. Danh tiếng của ngài vang khắp Ấn Độ, từ Tích Lan đến Tây Tạng. Sau khi hoàn tất việc học tại đại học Odantapurī, ngài trở thành viện trưởng Đại học Vikramaśīla trong giai đoạn 1034–1038 SCN. Sau đó, theo lời thỉnh cầu của vua Chan Chūb xứ Tây Tạng, ngài sang Tây Tạng và lãnh đạo một phong trào cải cách Phật giáo tại đây. Ngoài Mật giáo (Tāntrism), Atiśa còn tinh thông tất cả các môn học có trong chương trình giảng dạy của Nālandā. Theo truyền thống Tây Tạng, khoảng 200 tác phẩm được ghi nhận là do ngài trước tác (Altekar, 1944, tr. 126).

Cũng như Nālandā, Đại học Vikramaśīla là một trung tâm học thuật của Phật giáo Đại thừa. Ra đời muộn hơn Nālandā, Vikramaśīla không chỉ kế thừa những thành tựu ưu tú của Nālandā mà còn phát triển phương thức đào tạo riêng nhằm đáp ứng xu hướng tư tưởng của con người đương thời. Theo Altekar (1944, tr. 128), các môn học chuyên biệt của trường gồm ngữ pháp, logic học, siêu hình học, Mật điển (Tantras) và nghi lễ. Vì vậy, chương trình giảng dạy của trường không rộng và toàn diện như chương trình của Nālandā. Trong số các môn học ấy, Mật giáo giữ vị trí nổi bật hơn cả và thu hút sinh viên nhiều nhất. Các học giả của Vikramaśīla đã trước tác rất nhiều tác phẩm về Mật giáo; ngày nay phần lớn chỉ còn tồn tại dưới dạng bản dịch tiếng Tây Tạng. Trường đại học này cũng chịu chung số phận bi thảm như Nālandā khi bị chính đội quân Hồi giáo ấy hủy diệt vào năm 1197 SCN. Kể từ cuộc xâm lăng của người Hồi giáo, Phật giáo suy tàn tại Ấn Độ và chỉ được phục hưng một cách yếu ớt vào thế kỷ XX.

Có thể thấy rằng, Nālandā và Vikramaśīla được thành lập với mục đích đào tạo và bồi dưỡng nhân tài cho Phật giáo cả về phương diện lý luận lẫn thực hành. Hai trường đại học này hướng đến việc giáo dục tăng sĩ có đạo đức, kiến thức và năng lực trên nhiều lĩnh vực. Bên cạnh việc học kinh (sūtra) và luận (śāstra) Phật giáo, sinh viên còn được trang bị ngũ minh (pañca-vidyā) cùng các học thuyết của những hệ thống triết học khác. Đặc biệt, Vikramaśīla rất chú trọng đến việc thực hành Mật giáo. Sinh viên không chỉ phải tinh thông nội điển mà còn phải thông đạt ngoại điển, đồng thời luôn lấy việc tu tập và chứng ngộ giáo pháp của Đức Phật làm mục tiêu tối hậu. Nhờ đó, các tăng sĩ có đủ năng lực để hoằng truyền Phật giáo và tham gia các cuộc tranh biện với các học giả thuộc những truyền thống triết học khác trong những cuộc tranh luận cũng như các cuộc thi về thần thông, vốn là truyền thống phổ biến ở Ấn Độ thời bấy giờ. May mắn thay, hạt giống Phật giáo từ hai trường đại học này đã được Huyền Trang, Nghĩa Tịnh, Atiśa cùng nhiều vị khác mang đến Trung Quốc và Tây Tạng để tiếp tục phát triển hưng thịnh trước khi Phật giáo bị hủy diệt hoàn toàn tại quê hương của mình vào thế kỷ XII.

Do các duyên mà các pháp sinh khởi; do các duyên mà các pháp hoại diệt. Sinh và diệt là quy luật của tất cả các hành (saṅkhāra). Nālandā và Vikramaśīla cũng không nằm ngoài quy luật ấy. Từ những tư liệu, có thể nhận thấy sự tiếc nuối sâu sắc. Vậy nên, người viết luôn mang lòng biết ơn chân thành đối với tất cả những người đã nỗ lực xây dựng, duy trì và làm hưng thịnh hai trường đại học này trong suốt khoảng tám thế kỷ đối với Nālandā và bốn thế kỷ đối với Vikramaśīla. Chính tại đây đã quy tụ và đào tạo nên những bậc luận sư vĩ đại như Nāgārjuna, Atiśa, Huyền Trang cùng nhiều vị khác, góp phần to lớn vào sự phát triển của Phật giáo.

 

Tài liệu tham khảo

Sách:

  1. Altekar, A. S. Education in Ancient India. Benares: Educational Publishers, 1944.

  2. Bapat, P. V. (chủ biên). 2500 Years of Buddhism. Ấn Độ: Ministry of Information and Broadcasting Government, 1956.

  3. Buston. Obermiller, E. dịch. History of Buddhism, Phần II. Heidelberg, 1932.

  4. Goyal, S. R. History of Indian Buddhism. Meerut: Kusumanjali Prakashan, 1987.

  5. Lama Chimpa và Alaka Chattopadhyana dịch; Debiprasad Chattopadhyana chủ biên. Tāranātha’s History of Buddhism in India. Delhi: Motilal Banarsidass Publishers, 1990.

  6. Sankalia, H. D. University of Nālandā. Madras: B. G. Paul & Co. Publishers, 1934.

Tạp chí:

Miller, Roy Andrew. “Thon-mi Sambhoṭa and His Grammatical Treatises.” Journal of the American Oriental Society, 1963.

33 lượt xem